ghe

Bệnh ghẻ: triệu chứng, nguyên nhân, phòng ngừa

Bệnh ghẻ (ghẻ nước) là một bệnh da liễu phổ biến ở những nơi dân cư đông đúc và điều kiện vệ sinh chưa tốt. Ghẻ lây từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua quần áo, chăn chiếu dính trứng ghẻ hoặc cái ghẻ.

Tuy không gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, nhưng nếu người bị ghẻ không được điều trị chu đáo sẽ gặp các biến chứng như: nhiễm trùng da, chàm hóa, viêm cầu thận cấp.

1. Nguyên nhân gây ra bệnh ghẻ

Bệnh ghẻ là một bệnh nhiễm ký sinh trùng da liễu, do cái ghẻ (Sarcoptes scabiei hominis) gây nên. Sở dĩ gọi là cái ghẻ bởi vì ký sinh trùng gây bệnh là con cái, con đực giao phối xong thì chết.

Bệnh ghẻ lây do nằm chung giường, mặc quần áo chung, tiếp xúc da với người bị ghẻ. Ghẻ lây lan nhanh ở những nơi sinh hoạt tập thể đông người, thiếu điều kiện vệ sinh như trường học, nhà ở chật hẹp, trại giam, …

Sau khi bị ký sinh trùng ghẻ bám lên người, gần 2 tháng sau người bệnh mới cảm thấy ngứa dữ dội về đêm, và dần dần gây mất ngủ. Đối với những người có làn da nhạy cảm ghẻ ngứa có thể xuất hiện sớm hơn. Cái ghẻ có kích thước rất nhỏ, không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Cái ghẻ không thể bay hay nhảy, chu kì sống 30 ngày ở lớp da trên cùng (thượng bì). Ghẻ đào hang về đêm, đẻ trứng ban ngày, sau 72 – 96 giờ trứng ghẻ nở thành ấu trùng, trong vòng 20- 25 ngày tiếp theo, ấu trùng trở thành con ghẻ trưởng thành, bắt đầu chu kì sống mới.

benh ghe
Cái ghẻ

2. Triệu chứng bệnh ghẻ

Triệu chứng điển hình xuất hiện trên da của người bị ghẻ là luống ghẻ và mụn nước, cảm giác ngứa càng dữ dội hơn khi đêm về.

Luống ghẻ (đường hầm) do cái ghẻ đào là đường cong ngoằn ngoèo, dài 2-3 cm, gờ cao hơn mặt da, màu trắng đục hay trắng xám khác với màu da. Ở đầu đường hầm có mụn nước với đường kính 1 – 2 mm, đây chính là tổ ghẻ. Luống ghẻ thường được tìm thấy ở kẽ ngón tay, đường chỉ tay, nếp gấp cổ tay và ở bao quy đầu.

Mụn nước sắp xếp rải rác, riêng rẽ ở vùng da mỏng như kẽ ngón tay, đường chỉ lòng bàn tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay, nếp vú, quanh thắt lưng, rốn, kẽ mông, mặt trong đùi và bộ phận sinh dục. Ở trẻ sơ sinh, mụn nước có thể xuất hiện ở lòng bàn chân. Ở nam giới, xuất hiện săng ghẻ ở quy đầu, dễ nhầm với săng giang mai.

Sự di chuyển của cái ghẻ vào ban đêm kích thích đầu dây thần kinh cảm giác ở da, cùng độc tố chúng tiết ra khi đào hầm khiến người bị ghẻ ngứa dữ dội, tuy nhiên da bị ghẻ không đau.

Những cơn ngứa khiến người bệnh gãi, từ đó da bị xước, mụn nước da ghẻ bể khiến nhiễm trùng da lan rộng và tạo cơ hội cho các bệnh khác biểu hiện chồng chéo: sẩn, nổi mẩn đỏ, vẩy tiết, chàm hóa, mụn nước, mụn mủ, chốc nhọt, sẹo thâm màu, sẹo bạc màu…

dieu tri ghe
Ghẻ ngứa dữ dội gây mất ngủ

3. Dấu hiệu của 4 thể bệnh ghẻ điển hình

  • Ghẻ giản đơn: Chỉ có đường hầm và mụn nước, ít có tổn thương thứ phát.
  • Ghẻ nhiễm khuẩn: Có tổn thương của ghẻ và mụn mủ, do bội nhiễm liên cầu, tụ cầu, có thể gặp biến chứng viêm cầu thận cấp.
  • Ghẻ biến chứng viêm da, eczema hoá: Do chà xát cào gãi lâu ngày, ngoài tổn thương ghẻ còn có các đám viêm da là các đám mảng đỏ da bề mặt có mụn nước, ngứa lâu ngày sẽ thành eczema hoá.
  • Ghẻ nhiễm khuẩn có biến chứng viêm cầu thận cấp.

4. Chẩn đoán bệnh ghẻ

Cơ sở căn cứ để nghi ngờ bệnh nhân bị ghẻ là sự hiện diện các luống ghẻ trên da và mụn nước đi kèm với cảm giác ngứa dữ dội gây mất ngủ ban đêm.

Để xác định bệnh ghẻ, bác sĩ thường lấy kim chích dịch ở mụn nước nhỏ ra để lộ màu xám hoặc đen, dùng kim khều dịch soi dưới kính hiển vi tìm cái ghẻ.

5. Điều trị bệnh ghẻ

Hiện nay, bệnh ghẻ thường được bác sĩ chỉ định điều trị tại chỗ bằng thuốc bôi: Dung dịch DEP (Diethylphtalate); Mỡ lưu huỳnh; Dung dịch hoặc kem Permethrin 1-5 %; Dầu Benzyl benzoat 25%; Crotaminton 10%; Gamma benzen 1%.

Lưu ý:

  • Thuốc trị ghẻ là thuốc đặc trị, nhà thuốc không được bán khi không có đơn thuốc của bác sĩ. Người bệnh khi có nghi ngờ bị ghẻ cần đi khám da liễu để được chẩn đoán và kê đơn thuốc.
  • Người bệnh cần đảm bảo thuốc trị ghẻ tồn tại trên da đủ thời gian cần thiết để diệt cái ghẻ (thời gian này được ghi chú trong hướng dẫn sử dụng thuốc)
  • Việc trị ghẻ cần được tiến hành trên mọi thành viên gia đình cùng một lúc
  • Sau 2-4 tuần bôi thuốc, nếu vẫn xuất hiện luống ghẻ mới trên da và các triệu chứng quay trở lại, bệnh nhân cần tái khám để điều trị lại.

Ngoài ra, người bệnh có thể điều trị bằng các nguyên liệu thiên nhiên và thuốc đông y như: tắm cây lá đắng, ba gạc, xoan, xà cừ, cúc tần, dầu hạt máu chó… Những phương pháp này lành tính nhưng cần thời gian dài kiên trì điều trị.

6. Phòng tránh bệnh ghẻ

Bệnh ghẻ có thể phòng ngừa bằng các biện pháp sau:

  • Tránh tiếp xúc da với người bị ghẻ
  • Không sử dụng chung giường, khăn, quần áo, … của người bị ghẻ
  • Xử lí cái ghẻ trên quần áo, áo gối, bọc giường của người bệnh bằng cách giặt máy bằng nước nóng và sấy khô.
  • Những đồ vật mà người bệnh ghẻ tiếp xúc qua cần được bỏ vào bao, cột kín để diệt cái ghẻ trong vòng 1 tuần.
  • Khi phát hiện có người thân bị ghẻ, cần nhanh chóng đưa đi khám da liễu và tiến hành diệt cái ghẻ ở đồ dùng, bọc giường, quần áo, … Các thành viên sống cùng nhà cũng phải bôi thuốc trị ghẻ cùng lúc với người bệnh.

Các bác sĩ da liễu có kinh nghiệm trị bệnh ghẻ

Bệnh ghẻ không nguy hiểm nếu được điều trị sớm. Khi phát hiện các triệu chứng bệnh ghẻ, người bệnh nên sớm đến phòng khám da liễu thăm khám và tiếp nhận điều trị để chấm dứt tình trạng ngứa ngáy mất ngủ.


Bài viết được tham khảo từ Bác sĩ Đa khoa Trần Bảo Ngọc và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch hẹn với bác sĩ có chuyên môn để điều trị trên Docosan.com

Total
0
Shares
Leave a Reply
Related Posts
DMCA.com Protection Status

Bạn cần tư vấn

Docosan sẽ hướng dẫn tìm bác sĩ, phòng khám theo triệu chứng, mức giá và địa điểm gần nhất